LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÂN TAY

  Các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về ngành khoa học vân tay :
dermatoglyphics2 dermatoglyphics3 dermatoglyphics4 dermatoglyphics5 dermatoglyphics6 dermatoglyphics7 dermatoglyphics8 dermatoglyphics9
Marcello Malpighi (1628 – 1694) Dr. Nehemiah Grew (1641 – 1712) Francis Galton (1822-1911) Sir Edward Henry (1850-1931) Dr Harold Cummins (1894-1976) Julius Spier (1877-1942)  Noel Jaquin (1893-1974) Elizabeth Wilson 1920
  • Trung Quốc Cổ đại: Các thương nhân sử dụng dấu ấn của ngón tay cái trong việc giao dịch.
  • Năm 1684: Tiến sĩ Nehemiah Grew (1641-1712) là thành viên của Hội Hoàng gia và các trường đại học Y đã công bố công trình nghiên cứu làm bản vẽ chính xác về dấu vân tay và các khu vực lòng bàn tay.
  • Năm 1685:Tiến sĩ Bidloo công bố tấm bản đồ giải phẫu, minh họa các chỉ số của con người có liên quan đến thái độ sống.
  • Năm 1686: Tiến sĩ Marcello Malpighi (1628-1694) Nhà giải phẫu học người Ý đã giải thích cấu trúc vi mô về da trên đầu ngón tay trong công trình nghiên cứu về mô da người, đặt nền tảng cho ngành sinh học nghiên cứu về phôi thai, cơ thể người và bệnh lý trong suốt quá trình làm việc cống hiến 40 năm của ông.
  • Năm 1788: J.C.Mayer là người đầu tiên đưa ra thuyết cơ bản về phân tích vân tay và giả thuyết rằng dấu vân tay là duy nhất.
  • Năm 1823: Giáo sư, Tiến sĩ Jan E. Purkinje nhà giải phẫu học tại Đại học Breslau công bố nghiên cứu luận án của mình phân loại chủng vân tay thành 9 loại: arch, tented arch, ulnar loop, radial loop, peacock’s eye/compound, spiral whorl, elliptical whorl, circular whorl, và double loop/composite.
  • Năm 1823: Johannes Evangelista Purkinji tìm thấy các mô hình và hình dạng của ngón tay bắt đầu hình thành ở khoảng tuần thứ 13 của thai nhi trong bụng mẹ.
  • Năm 1832: Tiến sĩ Charles Bell (1774-1842) là một trong những bác sĩ đầu tiên kết hợp khoa học nghiên cứu giải phẫu thần kinh với thực hành lâm sàng. Ông đã xuất bản cuốn “The Hand: Its Mechanism and Vital Endowments as Evincing Design“.
  • Năm 1880: Tiến sĩ Henry Faulds và W.J Herschel, trong một công trình nghiên cứu dấu vân tay được công bố trên tạp chí Nature đã đưa ra lý luận số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người.
  • Năm 1893: Francis Galton (1822-1911) đã nghiên cứu về tầm quan trọng và tính ổn định của vân tay để nhận dạng cá nhân và xác định các biến thể di truyền của dâu vân tay giữa các chủng tộc khác nhau. Ông là người đầu tiên nói rằng vân tay là một bản vẽ thiết kế di truyền. Việc phân loại vân tay của ông là một bước tiến quan trọng. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại cơ bản: Arch (không có tam giác delta), Loop (một điểm delta), và Whorl (hai điểm delta). Nghiên cứu của ông được coi là kinh điển trong lĩnh vực Dematoglyphics và làm dấy lên sự quan tâm tập trung của các nhà khoa học về nhân chủng học, động vật học, di truyền học và tội phạm học.
  • Năm 1896 – 1897: Edward Henry (1850-1931) đã phát triển hệ thống phân loại Henry, được công nhận bởi chính phủ Anh vì những đóng góp của họ cho sự phát triển phân loại và công dụng của dấu vân tay. Hệ thống này đã được chấp nhận trên toàn thế giới trong vài năm.
  • Năm 1897: Harris Hawthorne Wilder là người Mỹ đầu tiên học về Dermatoglyphics nghiên cứu các gò trên bàn tay và gọi chúng là 3 điểm bán kính A, B, C; đồng thời đưa ra các chỉ dẫn về các loại vân tay chính.
  • Năm 1920: Elizabeth Wilson bắt đầu phân tích tình trạng của hạt một cách khoa học trong trường Đại học Columbia bằng cách sử dụng số liệu thống kê để kiểm tra sự khác biệt giữa con người với tâm thần phân liệt, thông minh thấp và những người bình thường.
  • Năm 1926: Tiến sĩ Harold Cummins đưa ra lý luận chỉ số cường độ vân tay PI (Pattern Intensity), giá trị RC, số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người. Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được khởi tạo ở thai nhi vào giai đọan từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đọan trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng chỉ trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi cũng là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não. Chính ông đã đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như là một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Mỹ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành một ngành nghiên cứu riêng biệt. Những khám phá trong cuộc đời hoạt động nghiên cứu cùng những kỹ thuật ông đã phát triển – còn gọi là “Phương pháp Cummins”- được công nhận như một công cụ quan trọng trong việc phát hiện tính di truyền và quan hệ của quá trình tiến hóa. Phương pháp này đã và đang được sử dụng phổ biến trong việc chẩn đoán một số bệnh như tâm thần phân liệt hay thiểu năng trí tuệ. Và Tiến sĩ Harold Cummins được xem như là “Cha đẻ của ngành Sinh trắc dấu vân tay”.
  • Năm 1930: Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.
  • Năm 1942, Charlotte Wolff (1897 – 1986) sử dụng số liệu thống kê để tính toán ý nghĩa cho từng khu vực của lòng bàn tay và trí tuệ tiềm thức, để xuất mối quan hệ giữa dấu vân tay và quá trình tư duy. Bà cũng tin rằng ngón tay trỏ và ngón tay cái có thể đại diện cho ý thức và ý chí.
  • Năm 1944: Tiến sĩ tâm lý phân tích Julius Spier Chirologist xuất bản cuốn sách “Bàn tay của trẻ em”. Ông đã khám phá một số điểm đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển tâm sinh lý, chẩn đoán sự mất cân bằng và các vấn đề trong khu vực này từ các mô hình của bàn tay. Ông đặt nhiều ý nghĩa về ảnh hưởng liên tục của gia đình và cuộc sống ban đầu của chúng ta đến sự phát triển cá nhân. Theo ông, lý do của phân tích bàn tay là một cách giải phóng con người khỏi những ảnh hưởng nhiễu từ xã hội và môi trường làm mờ đi năng lực bẩm sinh đích thực của cá nhân.
  • Năm 1950: Tiến sĩ Penfield, giáo sư bác sĩ phẫu thuật người Canada chỉ ra rằng mối liên kết chặt chẽ và mối quan hệ giữa dấu vân tayvà não bộ.
  • Năm 1957: Tiến sĩ Walker sử dụng các cấu hình da trong chẩn đoán Hội chứng Down.
  • Năm 1958: Noel Jaquin (1893-1974) đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách.
  • Năm 1967: Beryl Hutchinson (1891-1981) nghiên cứu sinh lý học phát hiện ra rằng Dermatologlyphics có thể chỉ ra tiềm năng bẩm sinh của một người.
  • Năm 1968: Sarah Holt nghiên cứu mô hình các vân tay của cả hai bàn tay và lòng bàn tay ở các dân tộc khác nhau cả về đặc tính bẩm sinh và sự tác động của môi trường.
  • Năm 1969: John J. Mulvihill, MD và David W. Smith, MD xuất bảncuốn “Thiên tài qua vân tay”, cung cấp phiên bản mới nhất về sựhình thành của vân tay.
  • Năm 1970: Liên Xô thực hiện công trình nghiên cứu về tiềm năng con người, mối liên quan giữa tài năng, trí thông minh với sinh trắc vân tay và hệ gen của con người. Và sử dụng Sinh trắc vân tay trong việc lựa chọn thí sinh cho thế vận hội Olympic.
  • Năm 1974: Beverly C. Jaegers cho thấy dấn vân tay có liên quan đến đặc trưng tâm lý của mỗi người.
  • Năm 1976: Schaumann nghiên cứu các chỉ số trên vân tay của những người bệnh tim bẩm sinh, ung thư, bệnh bạch cầu, bệnh tâm thần phân liệt… nghiên cứu được hướng vào nghiên cứu di truyền và chẩn đoán của các khuyết tật nhiễm sắc thể.
  • Năm 1980: Trung Quốc hực hiện công tác nghiên cứu về tiềm năng con người , trí thông minh và tài năng trong DERMATOGLYPHICS và quan điểm hệ gen của con người.
  • Năm 1981: Giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây, những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
  • Năm 1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.
  • Năm 1986, giải Nobel về sinh lý học đã được trao cho tiến sĩ Rita Levi-Montalcini và tiến sĩ Stanley Cohen cho phát hiện mối tương quan giữa NGF (yếu tố tang trưởng tế bào thần kinh não bộ) và EGF (yếu tố tăng trưởng tế bào biểu bì hình thành vân tay).
  • Năm 1987-1993, Fitzherbert đưa các con số đáng kể cho việc nghiên cứu học thuật cho các loại da, Filzherbert xuất bản hơn 300 luận án về mối quan hệ của sinh trắc học vân tay, nhân chủng học, giải phẫu học và khoa học y tế.
  • Năm 2000: Tiến sĩ Stowens – Giám đốc Bệnh viện St Luke ở New York tuyên bố có thể chẩn đoán tâm thần phân liệt và bệnh bạch cầu với độ chính xác hơn 90%. Tại Đức, Tiến sĩ Alexander Rodewald tuyên bố có thể xác định khuyết tật bẩm sinh tương đương với độ chính xác 90%.
  • Năm 2004: Trung tâm IBMBS (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay. Ngày nay, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan áp dụng Sinh trắc vân tay đến các lĩnh vực giáo dục, hy vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập bằng cách xác định các phong cách học tập khác nhau. Các nhà nghiên cứu khẳng định độ chính xác của Sinh trắc vân tay rất cao, đó là khả năng dự báo từ các tính năng của tay…